Xăng sinh học E10 là một trong những giải pháp nhằm giảm phụ thuộc vào xăng khoáng
Kết luận cuộc họp với Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng chiều 10/3, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, ngay khi xung đột xảy ra trên thế giới, Việt Nam đã kịp thời đánh giá những tác động có thể phát sinh đối với thị trường năng lượng, công tác điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát.
Theo Thủ tướng, biến động địa chính trị có thể làm gia tăng chi phí sản xuất, logistics, kéo theo áp lực lên giá thành hàng hóa và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, không loại trừ nguy cơ xuất hiện tình trạng đầu cơ, găm hàng, buôn lậu qua biên giới khi nguồn cung năng lượng toàn cầu biến động.
Trước bối cảnh đó, người đứng đầu Chính phủ khẳng định mục tiêu xuyên suốt là dứt khoát không để thiếu năng lượng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Một trong những giải pháp được nhấn mạnh là đẩy mạnh sử dụng xăng sinh học E10 theo các nghị quyết của Chính phủ, nhằm tăng tính chủ động về nguồn cung và giảm phụ thuộc vào xăng khoáng.
Đẩy sớm lộ trình so với dự kiến ngày 1/6
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết Việt Nam đã có lộ trình phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, trong khoảng một tuần trở lại đây, thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động mới, đặt ra yêu cầu phải thúc đẩy triển khai các giải pháp thay thế sớm hơn dự kiến.
Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đã áp dụng rộng rãi các loại xăng sinh học như E10, E15, E20 hoặc tỷ lệ phối trộn cao hơn. Điển hình là Mỹ, Brazil, các nước châu Âu, Trung Quốc và Thái Lan – nơi nhiên liệu sinh học đã trở thành một phần quan trọng trong cơ cấu năng lượng.
Tại Việt Nam, xăng E5 được phân phối trên phạm vi toàn quốc từ năm 2018, còn xăng E10 bắt đầu được triển khai từ tháng 8/2025. Đến nay, chưa ghi nhận bằng chứng cho thấy các loại xăng này gây ảnh hưởng tới hiệu suất hay độ bền của động cơ.
Đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, hiện có 12/26 doanh nghiệp đầu mối xăng dầu đã có cơ sở pha chế, phối trộn xăng sinh học. Trong số này, 3 thương nhân đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp phép cơ sở pha chế xăng sinh học E10.
Còn 9 doanh nghiệp đầu mối còn lại đang hoàn thiện các thủ tục để xin cấp giấy phép. Tại Hà Nội, TPHCM và Hải Phòng, Petrolimex và PV Oil cũng đã triển khai bán thí điểm xăng E10.
Ethanol – một trong những giải pháp cho vấn đề giá xăng dầu
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, cho biết sản lượng tiêu thụ xăng trên cả nước hiện vào khoảng 1 triệu m³ mỗi tháng. Trong đó, xăng RON92 chiếm khoảng 15% và RON95 chiếm khoảng 85%.
Với cơ cấu tiêu thụ này, nhu cầu ethanol để pha chế xăng sinh học ước khoảng 92.000-100.000 m³ mỗi tháng.
Việt Nam có 5 nhà máy ethanol đang vận hành ở mức cầm chừng, với khả năng cung ứng ngay khoảng 25.000 m³, tương đương gần 30% nhu cầu. Phần còn lại có thể được bổ sung từ nguồn nhập khẩu.
Theo ông Tuấn, nguồn cung ethanol trên thế giới chủ yếu đến từ Mỹ và Brazil. Hai quốc gia này có chi phí sản xuất tương đương, nhưng Mỹ có lợi thế về quy mô sản lượng lớn cũng như hệ thống cảng và logistics thuận lợi, vì vậy ethanol của Mỹ chiếm tỉ trọng lớn trên thị trường toàn cầu.
Tại khu vực châu Á, một số nước như Ấn Độ, Philippines và Thái Lan cũng có sản lượng ethanol đáng kể. Tuy nhiên, Ấn Độ và Philippines vẫn phải nhập khẩu thêm do đang triển khai xăng E20. Riêng Thái Lan hiện có dư địa xuất khẩu khi sản lượng đạt khoảng 2,6 triệu m³/năm, trong khi nhu cầu trong nước khoảng 1,3 triệu m³, tức còn dư khoảng 1,3 triệu m³ – tương đương hơn 100.000 m³ mỗi tháng.
Vì vậy, theo ông Tuấn, Thái Lan có thể trở thành nguồn cung ethanol kịp thời cho Việt Nam nếu phát sinh nhu cầu nhập khẩu trong ngắn hạn.
Tính toán cho thấy, phần thiếu hụt khoảng 70.000 m³ ethanol mỗi tháng của Việt Nam hoàn toàn có thể được bù đắp từ nguồn nhập khẩu, đặc biệt từ Mỹ. Tuy nhiên, để kịp pha trộn thành xăng E10 trong tháng 5/2026, các doanh nghiệp cần ký hợp đồng nhập khẩu ngay từ tháng 3/2026, bởi thời gian vận chuyển từ các cảng của Mỹ về Việt Nam thường mất khoảng 40-45 ngày.
Ông cũng nhận định, trong bối cảnh hiện nay, ethanol dễ mua hơn xăng dầu. Nguyên nhân là giá các nguyên liệu đầu vào để sản xuất ethanol tuy có biến động nhưng không tăng cùng nhịp với giá dầu.
Chẳng hạn, thời điểm hiện tại giá dầu thô và xăng MOGAS83 đã tăng khoảng 50%, trong khi giá ethanol chỉ tăng khoảng 4%. Do đó, ethanol đang được xem là một trong những giải pháp đối với bài toán giá xăng dầu.
Ngoài ra, hành lang vận chuyển ethanol ít chịu tác động từ các điểm nóng địa chính trị như Trung Đông, qua đó góp phần hỗ trợ bảo đảm nguồn cung cho thị trường năng lượng.
E10 – bài toán tổng thể về chủ động năng lượng
Ở góc nhìn dài hạn, ông Tuấn cho rằng phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ nhằm giải quyết vấn đề môi trường, mà còn là bài toán tổng thể về tự chủ năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tạo đầu ra cho lĩnh vực nông nghiệp.
Hiện nay, nguồn cung xăng dầu của Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu. Trong đó, khoảng 32% sản phẩm xăng dầu thành phẩm phải nhập khẩu, còn 68% được sản xuất trong nước.
Tuy nhiên, nhiều nhà máy lọc dầu trong nước vẫn phải nhập khẩu phần lớn dầu thô làm nguyên liệu. Chẳng hạn, Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn nhập khẩu gần 100% dầu thô, trong khi Nhà máy lọc dầu Bình Sơn nhập khẩu khoảng 30-35%. Điều này đồng nghĩa nguồn cung thực sự chủ động trong nước chỉ ở mức hơn 50% và xu hướng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu vẫn còn lớn.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động do các xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, việc bảo đảm nguồn cung xăng dầu trở thành yêu cầu cấp thiết.
Theo ông Tuấn, vấn đề cốt lõi không phải là giá xăng cao hay thấp, mà là phải bảo đảm có nguồn hàng. Trong khi đó, ethanol có mối liên kết với các ngành nông nghiệp như ngô, sắn và mía đường nên giá có chịu ảnh hưởng từ thị trường năng lượng nhưng mức biến động thường không quá lớn. Nếu được triển khai tích cực, nhiên liệu sinh học có thể trở thành giải pháp hỗ trợ giảm áp lực nguồn cung xăng dầu.
Thực tế, nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Philippines và Indonesia đã phát triển mạnh ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học. Tại các nước này, nhiên liệu sinh học cơ bản đáp ứng 20-40% nhu cầu năng lượng, trong khi ở các quốc gia như Brazil, Mỹ hay Ấn Độ, tỉ lệ này còn cao hơn.
Theo ông Tuấn, khi ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học phát triển, những cú sốc về giá dầu mỏ có thể được giảm thiểu phần nào, đồng thời tạo thêm đầu ra ổn định cho các loại cây trồng chủ lực của nông nghiệp.
Ông cũng kỳ vọng, từ các cơ chế chính sách hiện hành, trong 3-5 năm tới Việt Nam có thể hình thành thêm các nhà máy nhiên liệu sinh học mới. Khi đó, nguồn nhiên liệu sinh học sẽ góp phần chia sẻ gánh nặng bảo đảm nguồn cung xăng dầu, vốn đang đặt chủ yếu lên vai Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn và Nhà máy lọc dầu Bình Sơn, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế xanh theo định hướng của Đảng và Nhà nước.
Theo Báo Chính phủ
