[In trang]
Mở bung cánh cửa để làng nghề cất cánh
Thứ tư, 18/03/2026 - 07:11
Thủ công mỹ nghệ không chỉ là mảng màu rực rỡ của di sản truyền thống Việt Nam, mà thực sự là trụ cột góp sức đưa công nghiệp văn hóa thăng hoa nếu biết khai thác đúng cách.
Thế mạnh vươn tầm
Trong bức tranh văn hóa đa sắc, thủ công mỹ nghệ chiếm vị trí quan trọng. Làng nghề được ví như bảo tàng sống động, lưu giữ kỹ nghệ chế tác độc đáo và câu chuyện bản sắc của từng vùng miền. Trong hệ sinh thái ấy, chỉ tính riêng Thủ đô, theo thống kê của Sở Công Thương Hà Nội, hiện có khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, chiếm hơn 30% tổng số làng nghề cả nước. Trong đó, có hơn 330 làng nghề truyền thống và làng nghề đã được thành phố công nhận, doanh thu ước đạt trên 24.000 tỷ đồng. Một số làng nghề có doanh thu cao đáng kể như làng nghề điêu khắc mỹ nghệ Sơn Đồng, làng nghề đồ mộc Hữu Bằng… Bên cạnh đó, những cái tên như lụa Vạn Phúc, gốm sứ Bát Tràng, mây tre đan Phú Vinh, thêu Quất Động hay sơn mài Hạ Thái… từ lâu đã định vị giá trị trong tâm thức cộng đồng.
Thế mạnh cốt lõi của mỹ nghệ Việt Nam nằm ở đôi tay tài hoa, khối óc sáng tạo của nghệ nhân và nguồn nguyên liệu địa phương phong phú. Ảnh: TH
Thế mạnh cốt lõi của mỹ nghệ Việt Nam nằm ở đôi tay tài hoa, khối óc sáng tạo của nghệ nhân và nguồn nguyên liệu địa phương phong phú. Khác với công nghiệp sản xuất hàng loạt, sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm tính cá nhân hóa và dấu ấn tinh tế - thứ mà người tiêu dùng quốc tế ngày nay sẵn sàng trả giá cao để sở hữu. Thực tế ngành thủ công mỹ nghệ trong nhiều năm qua luôn duy trì vị thế là một trong những mặt hàng xuất khẩu mang lại kim ngạch lớn, tỷ suất lợi nhuận cao. Nhiều sản phẩm của nghệ nhân Việt vươn tới hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, chinh phục cả những thị trường khó tính với yêu cầu thẩm mỹ khắt khe như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…
Sức mạnh của thủ công mỹ nghệ còn nằm ở khả năng cộng hưởng, tạo đà cho các ngành công nghiệp văn hóa khác, đặc biệt là du lịch. Những tour tuyến trải nghiệm không gian văn hóa, tận tay vuốt gốm hay dệt lụa được ví như “nam châm” thu hút du khách, góp phần biến di sản thành tài sản vô giá, trực tiếp lan tỏa “quyền lực mềm” của văn hóa Việt Nam.
Theo GS. TS. Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam, thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam có truyền thống lâu đời gắn với vô vàn tên tuổi các phố nghề, làng nghề. Từ chỗ chỉ là công việc phụ trợ lúc nông nhàn, nó đang vươn mình tương xứng với một ngành kinh tế chính, một động lực quan trọng tạo cảm hứng, dẫn dắt công nghiệp văn hóa.
Tư duy mới và hướng đi chiến lược
Nắm giữ lợi thế về văn hóa và kinh tế, song thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang chật vật trên đường đua công nghiệp văn hóa toàn cầu. Chúng ta có bề dày lịch sử, tay nghề kỹ thuật xuất sắc nhưng lại khuyết thiếu tư duy quản trị hiện đại, tính liên kết và năng lực thương mại hóa triệt để.
Một thực trạng được Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam chỉ ra trên nhiều diễn đàn thời gian qua là có đến 90% sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vẫn đang phải sản xuất theo mẫu mã thiết kế và dán nhãn mác của nước ngoài đặt gia công. Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương Lê Hoàng Tài lý giải, do giá trị gia tăng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không cao nên các làng nghề chấp nhận xuất khẩu sản phẩm dưới cái tên khác, hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng. Bên cạnh đó các cơ sở sản xuất không đầu tư vào thiết kế mẫu mã sản phẩm mà chủ yếu lấy mẫu mã của cơ sở khác.
Cùng với đó là hàng loạt “điểm nghẽn” nội tại như sự rời rạc trong sợi dây liên kết giữa nghệ nhân - doanh nghiệp lữ hành - thị trường tiêu thụ. Nhiều nghệ nhân có kỹ thuật đỉnh cao nhưng tác phẩm làm ra nặng tính trưng bày, thiếu vắng tính ứng dụng thực tiễn để thương mại hóa quy mô lớn…
Để mở bung cánh cửa để làng nghề đổi mới, hiện đại, đáp ứng yêu cầu mới, cần một cuộc “cách mạng” trong tư duy và hành động. PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam cho rằng, nếu chỉ giữ cách làm truyền thống, nghề thủ công mỹ nghệ sẽ không tạo ra bứt phá cho công nghiệp văn hóa. Cần nâng cao vai trò của thiết kế sáng tạo, trình độ thẩm mỹ để biến sản phẩm mỹ nghệ thông thường thành những tác phẩm mang đậm dấu ấn trong thiết kế, bao bì và thương hiệu… “Quan trọng nhất là phải gửi gắm được câu chuyện văn hóa vào mỗi sản phẩm bán ra để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng của người tiêu dùng hiện đại”.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên thế giới phẳng, các làng nghề không thể áp dụng tư duy “hữu xạ tự nhiên hương” hay phụ thuộc hoàn toàn vào khâu trung gian. Tự thân làng nghề, nghệ nhân cần bước qua ranh giới cơ sở thuần sản xuất để trở thành một trung tâm trải nghiệm văn hóa sống động. Kết hợp hài hòa yếu tố thủ công với nền tảng công nghệ cũng như gắn kết hoạt động du lịch là “kiềng ba chân” thúc đẩy phát triển, mở rộng tệp khách hàng, tối ưu hóa lợi nhuận, kiến tạo được thương hiệu độc lập, nâng tầm làng nghề.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh, trụ cột cho phát triển bền vững, đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 9% GDP vào năm 2045.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 coi thủ công mỹ nghệ là một trong 12 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt. Thủ công mỹ nghệ đang đứng trước cánh cửa rộng mở khẳng định vị thế trên bản đồ phát triển quốc gia. “Bằng việc kết hợp giữa gìn giữ tinh hoa truyền thống và năng lực thích ứng với thị trường, hợp lực chính sách của Nhà nước, thủ công mỹ nghệ Việt hoàn toàn đủ sức cất cánh, vươn lên trở thành trụ cột vững chắc, đóng góp thiết thực vào sự phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia”, GS. TS. Từ Thị Loan nhận định.
Theo Đại Biểu Nhân Dân