Hội nghị có sự tham dự của đại diện các bộ, ngành Trung ương, địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học trong lĩnh vực năng lượng và nhiên liệu sinh học.
Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, thể hiện quyết tâm của ngành Công Thương trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh và bảo đảm an ninh năng lượng
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện các cam kết quốc tế về trung hòa carbon đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh đó, tình hình thế giới có nhiều biến động khó lường, đặc biệt là các xung đột vũ trang và cạnh tranh địa chính trị có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng. Do đó, việc chủ động đa dạng hóa nguồn năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng thay thế, trong đó có nhiên liệu sinh học, là yêu cầu mang tính chiến lược đối với mỗi quốc gia.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, ngày 07 tháng 11 năm 2025, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 50/2025/TT-BCT quy định áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam thay thế cho lộ trình quy định tại Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ. Để triển khai các nội dung của Thông tư số 50 một cách đồng bộ, hiệu quả, ngày 26 tháng 02 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 07/CT-TTg về việc đẩy mạnh việc sản xuất, phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.
Việc thúc đẩy sử dụng xăng sinh học E5, E10 không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính so với xăng khoáng truyền thống, góp phần bảo vệ môi trường, mà còn thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học, tạo đầu ra ổn định cho sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm và đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt tại các vùng nguyên liệu. Đồng thời góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, trong bối cảnh nguồn cung năng lượng thế giới luôn tiềm ẩn nhiều biến động do xung đột vũ trang và cạnh tranh địa chính trị.

Cũng theo Thứ trưởng, xăng sinh học E10, E15, E20 và cao hơn đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Brazil, Châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin… từ nhiều năm trước. Việt Nam đã phân phối xăng E5RON92 trên toàn quốc từ 2018, và thí điểm phân phối xăng E10RON95 từ ngày 01 tháng 8 năm 2025, thực tế cho thấy, chưa ghi nhận bất kỳ phản hồi tiêu cực nào từ người tiêu dùng về chất lượng xăng cũng như các tác động xấu của xăng E5, E10 đến hiệu suất hoạt động và tuổi thọ của các chi tiết động cơ xăng.
Để thực hiện thành công lộ trình sản xuất, phối trộn, phân phối và sử dụng xăng sinh học theo Thông tư 50 nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường, kinh tế, xã hội và an ninh năng lượng như đã nêu, tại Hội nghị hôm nay, tôi đề nghị, sau phần phổ biến ngắn gọn các nội dung cốt lõi của Thông tư số 50 và Chỉ thị số 07, các nhà quản lý, nhà khoa học, đại diện các doanh nghiệp tham dự Hội nghị dành nhiều thời gian tập trung thảo luận, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, gợi mở các giải pháp từ phát triển để chủ động nguồn cung E100 trong nước đến phối trộn, pha chế, phân phối xăng sinh học E5, E10 đến người tiêu dùng, các vấn đề kỹ thuật liên quan cũng như những kiến nghị tới các cấp quản lý (nếu có), đánh giá đầy đủ các khó khăn, thuận lợi, bài học kinh nghiệm về triển khai xăng E5, E10 trong thời gian qua cũng như các công cụ quản lý cần bổ sung để thực hiện lộ trình xăng sinh học.

“Triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Công Thương mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp. Với quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp đồng bộ và tinh thần trách nhiệm của các bên liên quan, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ thực hiện thành công lộ trình đã đề ra, góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển kinh tế xã hội”, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh.
Hoàn thiện khung pháp lý và lộ trình áp dụng xăng sinh học
Tại Hội nghị, Tiến sĩ Đặng Tất Thành, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Cục ĐCK) đã phổ biến những nội dung cốt lõi của Thông tư số 50/2025/TT-BCT. Theo đó, Thông tư quy định cụ thể tỷ lệ phối trộn, pha chế và lộ trình áp dụng xăng sinh học đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu và nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.
Theo lộ trình, xăng sinh học E10 (gồm 10% ethanol và 90% xăng nền) sẽ được triển khai bắt buộc từ ngày 1/6/2026, trong khi xăng E5 tiếp tục được sử dụng song song đến hết năm 2030.
Thông tư cũng quy định cơ chế quản lý linh hoạt, cho phép Bộ trưởng Bộ Công Thương điều chỉnh tỷ lệ phối trộn trên cơ sở đánh giá cung – cầu thị trường, biến động giá, điều kiện kỹ thuật, yêu cầu bảo vệ môi trường và bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, Thông tư xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong triển khai lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học; từ phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất ethanol, đầu tư hạ tầng phối trộn, phân phối, đến công tác kiểm tra, giám sát và truyền thông thị trường.
Một nội dung quan trọng được thảo luận tại Hội nghị là khả năng bảo đảm nguồn cung ethanol phục vụ lộ trình phối trộn xăng sinh học.
Theo Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, xăng sinh học được đánh giá là giải pháp hiệu quả với chi phí hợp lý nhằm giảm phát thải trong lĩnh vực giao thông, đồng thời không yêu cầu thay đổi lớn đối với động cơ phương tiện hay hạ tầng phân phối xăng dầu.
Ngoài ra, việc phát triển nhiên liệu sinh học còn tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm nông nghiệp như sắn, mía, ngô – những nguyên liệu chính để sản xuất ethanol nhiên liệu – qua đó góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và phát triển kinh tế nông thôn.
Hiện nay, Việt Nam có nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào với khoảng 5 triệu tấn sắn mỗi năm, trong đó khoảng 1,3 triệu tấn được sử dụng cho các nhà máy ethanol. Bên cạnh nguồn cung trong nước, ethanol cũng có thể được nhập khẩu từ các thị trường lớn như Mỹ và Brazil để bảo đảm nguồn cung ổn định cho sản xuất xăng sinh học.
Theo dự báo, đến cuối năm 2026, nguồn cung ethanol trong nước có thể đáp ứng khoảng 45% nhu cầu thị trường, phần còn lại được bổ sung từ nguồn nhập khẩu, bảo đảm đủ nguồn cung cho việc triển khai xăng E10 trên toàn quốc.
Trong phần thảo luận, đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết hiện đã có 12/26 thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu có cơ sở pha chế, phối trộn xăng sinh học; trong đó ba doanh nghiệp gồm Petrolimex, PVOil và Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP đã được cấp phép pha chế xăng sinh học E10. Tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng, các doanh nghiệp này đã bắt đầu bán xăng sinh học từ tháng 8/2025 và đến nay chưa ghi nhận phản hồi hay khiếu nại nào của người tiêu dùng về chất lượng xăng sinh học trên thị trường.

Về nguồn cung ethanol phục vụ lộ trình phối trộn, ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, cho rằng phát triển nhiên liệu sinh học có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu toàn cầu chịu tác động của nhiều yếu tố địa chính trị. Hiện Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 32% xăng dầu thành phẩm và nguồn cung trong nước cũng phụ thuộc đáng kể vào dầu thô nhập khẩu, vì vậy phát triển nhiên liệu sinh học sẽ góp phần tăng khả năng tự chủ năng lượng.
Theo tính toán, để triển khai lộ trình xăng E10, mỗi tháng Việt Nam cần khoảng 92.000 - 100.000 m³ ethanol. Trong khi đó, các nhà máy nhiên liệu sinh học trong nước hiện có thể đảm bảo sản xuất khoảng 25.000 m³/tháng, tương đương gần 30% nhu cầu; phần còn lại sẽ phải bổ sung từ nguồn nhập khẩu.
Từ phía doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, ông Trịnh Quang Khanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, thông tin rằng các thương nhân đầu mối hiện có đủ năng lực pha chế, phối trộn và cung ứng xăng sinh học theo lộ trình. Theo tổng hợp của Hiệp hội, năng lực pha chế của các doanh nghiệp lớn hiện đạt khoảng 965.000 m³/tháng, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu phối trộn xăng sinh học trên phạm vi toàn quốc.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cho rằng việc chuyển đổi sang kinh doanh xăng sinh học sẽ làm phát sinh thêm chi phí đầu tư hệ thống pha chế, lưu trữ và vận chuyển ethanol. Do đó, các doanh nghiệp kiến nghị cơ quan quản lý nghiên cứu xem xét một số chính sách liên quan đến chi phí kinh doanh định mức, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng khoáng dùng để pha chế xăng sinh học, cũng như chính sách thuế bảo vệ môi trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình triển khai.


Mở rộng góc nhìn ra kinh nghiệm quốc tế, các đại biểu tham dự hội nghị đã được lắng nghe những chia sẻ từ Thái Lan và Hoa Kỳ – những quốc gia đã có nhiều năm triển khai sản xuất, phối trộn và kinh doanh xăng sinh học. Tiến sĩ Seksan Phrommanich, đại diện Hiệp hội Công nghiệp Thái Lan (FTI), cho biết nước này đã phát triển xăng sinh học với các mức pha trộn như E10, E20 và E85; trong đó Gasohol E10 (RON95 và RON91) hiện chiếm hơn 80% thị phần tiêu thụ. Thái Lan hiện có 28 nhà máy ethanol với tổng công suất khoảng 6,92 triệu lít mỗi ngày, chủ yếu sử dụng nguyên liệu từ mía và sắn, góp phần tạo đầu ra ổn định cho nông nghiệp, nâng cao an ninh năng lượng và giảm phát thải.
Trong khi đó, chia sẻ kinh nghiệm từ Hoa Kỳ, bà Lindsay Neubecker (Giám đốc quản lý sản phẩm, Công ty Veeder-Root) cho biết khoảng 98% xăng bán ra trên thị trường nước này có pha trộn ethanol ở mức E10, với hệ thống hạ tầng phân phối được trang bị các thiết bị giám sát bồn chứa, bơm nhiên liệu và cảm biến nhằm theo dõi tồn kho và phát hiện sớm các rủi ro như ăn mòn hay hiện tượng tách pha trong bồn chứa nhiên liệu.
Phối hợp đồng bộ để triển khai hiệu quả lộ trình
Phát biểu bế mạc Hội nghị, ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết các ý kiến tham luận tại Hội nghị đã phân tích toàn diện lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam, đồng thời đánh giá khách quan thực trạng sản xuất, nguồn cung, hạ tầng phối trộn và phân phối xăng sinh học trong thời gian qua.
Các đại biểu cũng đã thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển thị trường nhiên liệu sinh học, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ vướng mắc và nâng cao hiệu quả triển khai trong thời gian tới.
Trên cơ sở các ý kiến tại Hội nghị, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế, chính sách và các giải pháp triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học. Trong đó, tập trung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện lộ trình; đồng thời thúc đẩy đầu tư hạ tầng phối trộn, tồn trữ và phân phối xăng sinh học.
Bên cạnh đó, các địa phương được khuyến khích quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất ethanol, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư và hình thành chuỗi liên kết bền vững giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến.
Việc triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống được xác định là bước đi quan trọng trong chiến lược chuyển dịch năng lượng của Việt Nam theo hướng xanh và bền vững, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.